Tag Archives: Công nghệ

Điều gì giúp Israel trở thành hình mẫu cho các quốc gia học tập?

Một số kinh nghiệm thúc đẩy thương mại hoá sản phẩm KH&CN của Israel

Từ một nước xuất khẩu chủ yếu các loại quả có múi (cam, quýt), đến nay Israel đã trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm công nghệ cao, được coi là “kỳ tích” nhờ có các chính sách đúng đắn trong việc phát triển đổi mới sáng tạo và đặc biệt là chính sách thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu. 

Thương mại hoá sản phẩm KH&CN là mắt xích trọng yếu trong nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo. Ba yếu tố quan trọng cấu thành Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel là: nhà nước; khu vực doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất); trường đại học, viện nghiên cứu (gọi chung là tổ chức KH&CN).

Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu và triển khai (R&D), thương mại hoá sản phẩm KH&CN dựa trên nguyên tắc thị trường

Sự hỗ trợ của Chính phủ Israel ngay từ đầu đã tuân theo nguyên tắc không can thiệp trực tiếp và chỉ hỗ trợ ở những lĩnh vực được coi là “khiếm khuyết của thị trường”, nghĩa là những khu vực mà tư nhân không mặn mà đầu tư, cần “bàn tay” của Nhà nước. Cụ thể là Israel ưu tiên tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu cho khu vực sản xuất dưới dạng các chương trình tài trợ. Ngoài ra, theo nguyên tắc chỉ hỗ trợ mà không “bao cấp”, Israel sớm thực hiện chính sách hỗ trợ 50% cho R&D ở các công ty nội địa có sẵn cơ sở sản xuất và sản phẩm phải được sản xuất ra trên lãnh thổ Israel và phục vụ xuất khẩu, các bí quyết công nghệ không được chuyển giao ra nước ngoài. Đến năm 2005, Israel mới cho phép chuyển giao các kết quả nghiên cứu, bí quyết công nghệ do Nhà nước tài trợ ra nước ngoài. Hiện nay, ngành công nghệ cao của Israel là ngành công nghệ mở và hướng tới mục tiêu chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Để thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu, đẩy nhanh ứng dụng các sản phẩm KH&CN vào sản xuất công nghiệp, ngay từ năm 1969 Israel đã thành lập một đơn vị trực thuộc Bộ Công thương (ngày nay được đổi tên thành Bộ Kinh tế và Công nghiệp) có tên gọi “Văn phòng Nhà khoa học trưởng” (Chief Scientist Office) với chức năng điều phối các chương trình quốc gia đầu tư cho R&D ở khu vực tư nhân. Thời kỳ đó, cơ quan này đóng vai trò thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm KH&CN của Israel, được coi là thành tố cơ bản trong hệ thống hỗ trợ quốc gia cho KH&CN và đổi mới sáng tạo [1]. Theo thống kê, trung bình hàng năm Văn phòng thực hiện hỗ trợ cho hơn 500 công ty với trên 1.000 dự án, giá trị tài trợ chiếm 20-50% ngân sách dành cho nghiên cứu [2]. Từ 2016, Văn phòng này chuyển thành Cơ quan đổi mới sáng tạo quốc gia trực thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp [3].
Ở Israel, các bộ đều tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, chức năng chủ trì, điều phối chung và xây dựng chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia vẫn do Bộ KH&CN đảm nhiệm kể từ khi Bộ này hoạt động với tư cách là cơ quan độc lập vào năm 1982.

Nếu như ở 12 Bộ đều có bộ phận riêng với tên gọi là Văn phòng Nhà khoa học trưởng đóng vai trò là đơn vị chuyên trách về hoạch định chính sách đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hoá và quản lý kinh phí tài trợ cho các dự án thuộc chuyên ngành do bộ mình quản lý thì Văn phòng Nhà khoa học trưởng trực thuộc Bộ KH&CN giữ vai trò là “nhạc trưởng” của tất cả và điều phối Diễn đàn KH&CN của tất cả các Bộ. Nhà khoa học trưởng đưa ra các khuyến nghị về những lĩnh vực KH&CN ưu tiên quốc gia sẽ được Bộ KH&CN hỗ trợ trên cơ sở kết hợp với các chuyên gia của Bộ. Nhà khoa học trưởng xây dựng khung ngân sách cho sự phát triển cơ sở hạ tầng KH&CN của Israel. Nhà khoa học trưởng cũng giám sát một nhóm các nhà chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khoa học [4].

Tiếp cận kết nối “cầu” – “cung” thay vì “cung” – “cầu” công nghệ, tăng cường vai trò của nhà khoa học và doanh nghiệp trong việc lựa chọn các dự án tiềm năng để triển khai

Ở Israel, việc lựa chọn dự án để Nhà nước hỗ trợ từ nghiên cứu đến thương mại hoá hiện nay được thực hiện theo nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu thị trường, “cầu” quyết định “cung” thay vì việc nhà khoa học cứ nghiên cứu và cho ra công nghệ, sau đó mới tìm kiếm thị trường.

Để tổ chức theo nguyên tắc này, Israel đề cao vai trò của nhà khoa học – bên cung và doanh nghiệp – bên cầu trong việc tìm kiếm và lựa chọn dự án công nghệ để đưa vào triển khai. Quy trình được thực hiện như sau:

Dieu gi giup Israel tro thanh hinh mau cho cac quoc gia hoc tap?

Quy trình được tổng hợp bởi nhóm tác giả.

Như vậy có thể thấy, thị trường và nhu cầu thị trường do khu vực sản xuất đề xuất sẽ là cơ sở đầu tiên để nghiên cứu, xem xét lựa chọn dự án công nghệ nào được tài trợ để triển khai và thương mại hoá trong thực tiễn. 

Phát huy vai trò của các tổ chức trung gian KH&CN trong việc thúc đẩy thương mại hoá, chuyển giao công nghệ tại các trường đại học – thành phần quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel

Theo Công ty chuyển giao công nghệ RAMOT của Israel, hiện có khoảng 75% sáng chế (patent) tạo ra bởi các trường đại học có tiềm năng thương mại hoá cao [5]. Đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học cho doanh nghiệp là các công ty chuyển giao công nghệ – tổ chức trung gian KH&CN. Tại Israel, các công ty này có thể của tư nhân, nhà nước hoặc trường đại học. Quy trình thực hiện hỗ trợ thương mại hoá của các công ty thường là: nhà khoa học khi có sáng chế sẽ thông báo cho công ty chuyển giao công nghệ để công ty này đánh giá mức độ thương mại hoá tiềm năng và xây dựng kế hoạch kinh doanh, mời chào doanh nghiệp. Việc soạn thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, xác định tỷ lệ lợi nhuận giữa các bên, hỗ trợ giao dịch với các nhà đầu tư cũng do các công ty chuyển giao công nghệ đảm nhiệm, nhà khoa học không cần quan tâm đến quy trình này mà chỉ chú tâm vào nghiên cứu. Trong trường hợp phi vụ thành công họ sẽ nhận 40% giá trị hợp đồng chuyển giao và tự phân bổ cho các thành viên trong nhóm. 60% còn lại chia thành 3 phần bằng nhau nộp vào ngân sách trường đại học, quỹ phát triển phòng thí nghiệm nghiên cứu và phần còn lại cho hoạt động của công ty chuyển giao công nghệ. Các công ty chuyển giao công nghệ thuộc các trường đại học đều là những đơn vị hoạt động chuyên nghiệp, mang lại lợi nhuận cho trường và do những người có kinh nghiệm kinh doanh điều hành.

Dieu gi giup Israel tro thanh hinh mau cho cac quoc gia hoc tap?-Hinh-2
 Mạng lưới các tổ chức chuyển giao công nghệ của Israel.

Khuyến khích các nhà khoa học sáng tạo và tích cực thương mại hoá công nghệ thông qua các quy định về sở hữu trí tuệ

Để đảm bảo quyền lợi cho trường đại học và doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ; đồng thời khuyến khích các nhà khoa học cũng như trường đại học nghiên cứu và đẩy mạnh thương mại hoá công nghệ, Israel quy định nghiêm ngặt về quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, Theo đó, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ phải cam kết đưa công nghệ ra thị trường và không có quyền công bố kết quả nghiên cứu. Quyền sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về trường đại học và luôn được quy định trong hợp đồng chuyển giao. Mặt khác, trường đại học cũng không có quyền tự kinh doanh bằng công nghệ đó mà không có sự hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Israel không cho bán mà chỉ cho phép trường đại học chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho doanh nghiệp theo hợp đồng chuyển giao công nghệ [5].

Một số gợi ý cho Việt Nam

Tính đến hết tháng 12/2018, theo Tổng cục Thống kê, cả nước có trên 714.000 doanh nghiệp đang hoạt động [6]. Hiện trạng sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp những năm gần đây (10% doanh nghiệp sử dụng công nghệ từ những năm 70, 30% sử dụng công nghệ từ những năm 80 và 50% từ những năm 90 của thế kỷ trước) [7] cho thấy nhu cầu đổi mới công nghệ còn khá lớn. Về cung công nghệ, mặc dù số lượng trường đại học, viện nghiên cứu khá đông đảo song cho đến nay các trường đại học và viện nghiên cứu vẫn là những tổ chức thực hiện chủ yếu các hoạt động R&D, khả năng thương mại hoá kết quả nghiên cứu khá thấp. Mặc dù nhiều kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN trong nước được thực hiện với chi phí thấp hơn nhiều so với nguồn công nghệ ngoại nhập nhưng “cung” và “cầu” chưa gặp được nhau. Từ kinh nghiệm của Israel và thực tế tại Việt Nam, có thể thấy một số nguyên nhân chính dẫn tới những hạn chế và tồn tại trong việc thương mại hoá sản phẩm KH&CN là:

Thứ nhất, Nhà nước chưa phát huy tốt vai trò là kích tố cho hoạt động thương mại hoá kết quả nghiên cứu. Việc tài trợ đã có những chuyển biến tích cực và hướng tới kết quả đầu ra, khuyến khích chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm, song các quy trình tài trợ vẫn còn rườm rà; còn nhiều rào cản, vướng mắc về cơ chế tài chính, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ (ví dụ như thiếu văn bản hướng dẫn xác định giá của các sáng chế, giải pháp hữu ích nên khó triển khai thương mại hoá); các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ nhà khoa học còn yếu. Nhà nước vẫn để nhà khoa học phải tự bơi trong công cuộc tìm kiếm thị trường cho các sáng chế của mình, thậm chí phải tự bỏ tiền của mình để bảo hộ tài sản trí tuệ mà quyền sở hữu lại thuộc về Nhà nước.

Thứ hai, doanh nghiệp thiếu thông tin và niềm tin về công nghệ nội. Các doanh nghiệp có xu hướng mua công nghệ từ nước ngoài do tâm lý “sính ngoại” và tin tưởng vào công nghệ nhập khẩu [8].

Thứ ba, “cung” công nghệ không xuất phát từ nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp. Các sản phẩm KH&CN còn ít và kém chất lượng do năng lực và trang thiết bị còn hạn chế, thời gian nghiên cứu dài, trong khi doanh nghiệp cần sớm có công nghệ [7].

Thứ tư, sự liên kết giữa người sử dụng và người sản xuất công nghệ yếu hoặc thậm chí không có liên kết, mối liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu với khu vực doanh nghiệp sản xuất chủ yếu dựa trên các kết nối cá nhân chứ không phải là cam kết của tổ chức.

Thứ năm, thiếu các tổ chức trung gian KH&CN hoạt động hiệu quả tại cơ sở nghiên cứu, trường đại học như mô hình các trung tâm chuyển giao công nghệ tại trường đại học ở Israel chuyên trách việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của nhà khoa học.

Thứ sáu, sự phối hợp giữa ba nhà: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp, 3 thành tố quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn yếu. Vai trò của nhà khoa học đầu ngành trong việc tham gia hoạch định và xây dựng các chính sách thúc đẩy thương mại hoá, đổi mới sáng tạo chưa được đề cao. Các quy trình hỗ trợ và tài trợ cho nghiên cứu còn mang nặng tính hành chính, đôi khi hình thức. Doanh nghiệp không dễ tiếp cận các chương trình hỗ trợ của nhà nước cho R&D cũng như đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, còn thiếu các công cụ mạnh để khuyến khích sự liên kết giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Từ thực tế nêu trên tại Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm của Israel, để thúc đẩy thương mại hoá công nghệ tại Việt Nam, góp phần đẩy nhanh quá trình hình thành nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, chúng ta cần phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp. Nhà nước, bên cạnh việc hỗ trợ kinh phí cho các dự án có triển vọng thương mại hoá cao, cần xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ cho việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, không nên “trói” các nhà khoa học và cơ quan chủ trì dự án bằng việc nắm quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của nhà khoa học… Cần tăng cường sự tham gia của các nhà khoa học đầu ngành phối hợp cùng khu vực doanh nghiệp vào việc xác định các công nghệ triển vọng, tiềm năng, xuất phát từ nhu cầu thị trường. Cần giảm bớt sự can thiệp mang tính hành chính, “xin” – “cho” trong việc tài trợ cho các tổ chức KH&CN cũng như hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhằm khuyến khích ứng dụng kết quả nghiên cứu trong nước vào sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, để thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu, cần khẩn trương xây dựng và hoàn thiện các tổ chức trung gian KH&CN đặt tại các cơ sở nghiên cứu, trường đại học. Các tổ chức trung gian KH&CN này cần mang tính chuyên môn hoá cao, am hiểu và có khả năng đánh giá tiềm năng, triển vọng thị trường đối với từng loại công nghệ, định hướng công nghệ cho các doanh nghiệp, xây dựng các chiến dịch marketing công nghệ để đưa công nghệ nhanh đến với khu vực sản xuất, kinh doanh, kết nối, thúc đẩy các giao dịch chuyển giao công nghệ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi… Sự phối hợp nhịp nhàng, không chồng chéo, đảm bảo tính “chung” và riêng” giữa các bộ, ngành dưới sự điều phối của “nhạc trưởng” là Bộ KH&CN trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ thương mại hoá kết quả nghiên cứu cũng sẽ là một nhân tố quan trọng góp phần vào sự thành công của công cuộc thương mại hoá sản phẩm KH&CN, xây dựng nền kinh tế đổi mới sáng tạo ở nước ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Erez Cohan, Daniel Shiffman (2010), “The Office of the Chief Scientist and the financing of Israel’s high tech research & development, 2000-2010”, SSRN Electronic Journal, 8, p.8.

[2] https://ift.tt/33S8pfj.

[3] https://ift.tt/2UEyJpf.

[4] https://ift.tt/2WNeng1.

[5] https://ift.tt/3aorHM1.

[6] https://ift.tt/2Uou4ZJ.

[7] https://ift.tt/3dBL7Pl.

[8] Hồ Ngọc Luật, Nguyễn Thị Kha (2015), “Thương mại hoá kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, JSTPM, 4(1), tr 9.

PGS.TS Đỗ Hương Lan (Trường Đại học Kinh tế quốc dân)

Lê Thái Hòa (Thương vụ Việt Nam tại Israel)

Điều gì giúp Israel trở thành hình mẫu cho các quốc gia học tập? Công nghệ

5 lý do khiến Zoom trở thành ứng dụng nên có trên điện thoại

(Kiến Thức) – Cho phép cài đặt miễn phí, dễ dàng truy cập trên nhiều thiết bị di động và còn nhiều lý do khiến cho Zoom trở thành ứng dụng đáng tải về nhất trong năm nay.

Trong thời điểm cả thế giới gồng mình chống lại Covid-19, các trường học đóng cửa, các công ty cho nhân viên làm việc tại nhà, thì những app công nghệ lên ngôi. Trong đó, Zoom Cloud Meetings – ứng dụng học, họp trực tuyến được đánh giá là đáng để tải về nhất với mọi đối tượng, và cả những doanh nghiệp. 

Zoom là ứng dụng quan trọng đối với các doanh nghiệp  

Dù chỉ mới ra mắt chưa đầy một năm, Zoom đã đạt giá trị vốn hóa gần gấp đôi các hãng hàng không lớn nhất nước Mỹ. Có nhiều lý do khiến cho Zoom trở thành ứng dụng nên có trên điện thoại, đặc biệt giữa mùa dịch bệnh hoành hành.

Ai cũng có thể cài đặt 

Trong một thời gian dài, hội nghị truyền hình – giải pháp họp trực tuyến từ xa thông qua hệ thống thiết bị truyền tải hình ảnh và âm thanh gây không ít khó khăn cho người dùng. Không phải ai cũng hiểu cách thiết lập cũng như quy trình sử dụng phức tạp, và Zoom Cloud Meeting ra đời giải quyết được mọi vấn đề đó.

Zoom dễ dàng tải về miễn phí trên các thiết bị di động 

Chỉ với một cú click trên Appstore hay Google Play, người dùng có thể dễ dàng tải về và cài đặt Zoom trên thiết bị di động của mình. Việc này dễ dàng đến mức những người không quá am hiểu về công nghệ nhất cũng có thể sử dụng.

Dễ dàng truy cập 

Bạn có thể cài đặt Zoom trên bất kỳ thiết bị nào, từ laptop, iPad, iPhone hay các thiết bị Android, Windows,… Và tất nhiên có thể sử dụng ở bất cứ đâu, chỉ cần có kết nối Internet. 

Đây cũng là một trong số những yếu tố quan trọng khiến Zoom trở thành ứng dụng quan trọng nhất với mọi doanh nghiệp. 

Không mất phí 

Một điều tuyệt vời khi sử dụng Zoom Cloud Meeting, đó là ứng dụng này hoàn toàn miễn phí tải về. 

Hàng triệu người đang dùng ứng dụng này  

Zoom không cung cấp tài khoản dạng Freemium – cho phép sử dụng miễn phí trong giới hạn thời gian. Do đó, hàng triệu người đang dùng ứng dụng này theo các mục đích, các cách khác nhau để duy trì kết nối trong công việc và cá nhân.

Đáng tin cậy 

Những tuần qua ghi nhận sự gia tăng đột biến người dùng Zoom, ứng dụng được cho là quan trọng đối với các doanh nghiệp hay trường học. Tuy nhiên đường truyền và tốc độ xử lý dữ liệu dường như không bị hạn chế, trong khi Zoom phải duy trì vô số các cuộc họp, lớp học online trên thế giới. 

Cho đến hiện tại, cũng chưa có trường hợp nào phàn nàn về vấn đề bị lộ thông tin cá nhân khi sử dụng ứng dụng công nghệ này. 

Là một ứng dụng thú vị 

Nhiều người dùng đánh giá Zoom là một ứng dụng khá thú vị và biết cách khiến cho họ trở nên bớt nhàm chán. 

Chẳng hạn, thay vì tổ chức một cuộc họp mà mọi người phải nhìn chằm chằm vào khung cảnh nhà bếp hay phòng khách của nhau, bạn có thể tùy chọn thêm nền bãi biển xanh mát hay ngoài vũ trụ sinh động,… 

Hướng dẫn cài đặt ứng dụng Zoom trên điện thoại để tham gia lớp học trực tuyến. Nguồn: Youtube


5 lý do khiến Zoom trở thành ứng dụng nên có trên điện thoại Công nghệ

Apple sắp có siêu phẩm iPhone màn hình cuộn?

[unable to retrieve full-text content] (Kiến Thức) – Bằng sáng chế gần đây nhất của Táo khuyết cho thấy hãng này đang xem xét tạo nên chiếc iPhone màn hình cuộn để khắc phục những vấn đề từ bản lề trên smartphone có màn hình gập.

Apple sắp có siêu phẩm iPhone màn hình cuộn? Công nghệ

Tại sao tới giờ vẫn chưa thể có ô tô bay?

Các công ty như Boeing Airbus, Toyota và Uber nhận ra nhu cầu đi lại ngày càng tăng cao và đổ tiền vào việc phát triển xe bay. Tuy nhiên tại sao tới giờ vẫn chưa thể có ô tô bay?

M.B (Theo CNBC)

Đối thủ nào đang thực sự là thách thức của Tesla?

Đối thủ nào đang thực sự là thách thức của Tesla?

Tesla đã tiêu thụ hơn 246.000 xe điện và gần 194.000 mẫu xe khác ở Mỹ năm 2019. Con số này cao hơn 3 lần lượng tiêu thụ của tất cả các hãng sản xuất khác cộng lại. Vậy đối thủ nào đang thực sự là thách thức của Tesla?

Tại sao tới giờ vẫn chưa thể có ô tô bay?Công nghệ

Trung tâm 1 cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử tham gia giải đáp thắc mắc về Covid-19

 Chung tay cùng cộng đồng phòng, chống dịch Covid-19, hiện Trung tâm một cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử tại địa chỉ https://egov.mic.gov.vn đang tiếp nhận cả thắc mắc, phản ánh của người dân về dịch bệnh để chuyển cơ quan chức năng giải đáp.

Trung tâm một cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử được Bộ TT&TT chính thức khai trương, đưa vào hoạt động tại địa chỉ http://egov.mic.gov.vn từ ngày cuối tháng 11 năm ngoái.

Với slogan “Chúng tôi lắng nghe để hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử”, hoạt động của Trung tâm hướng tới mục tiêu góp phần tăng tốc và đẩy nhanh tiến trình phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số.

Xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm một cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử là một hoạt động thể hiện cách làm mới của Bộ TT&TT trong triển khai xây dựng Chính phủ điện tử.

Trung tâm 1 cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử tham gia giải đáp thắc mắc về Covid-19
Trung tâm 1 cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử tham gia giải đáp thắc mắc về Covid-19

Thời gian vừa qua, đây đang là một trung tâm trực tuyến giữ vai trò “một đầu mối”, “một cửa” tương tác với các cơ quan nhà nước để trả lời các câu hỏi, vướng mắc khó khăn. Điều này đã góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian của các cơ quan nhà nước trong việc kết nối, xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến phát triển Chính phủ điện tử.

Thông tin từ Cục Tin học hóa, đơn vị được Bộ TT&TT giao trách nhiệm quản lý, vận hành Trung tâm một cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử vừa cho biết, trong mùa dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19, Trung tâm đã nhận được rất nhiều thắc mắc, phản ánh của người dân liên quan đến dịch bệnh và các ứng dụng phòng, chống dịch bệnh.

Theo thống kê của Cục Tin học hóa, ước tính từ ngày 9/3 đến nay, đã có khoảng 500 câu hỏi của người dân liên quan đến dịch Covid-19 được gửi tới Trung tâm một cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử.

Những thắc mắc, phản ánh của người dân về các ứng dụng phòng, chống dịch bệnh Covid-19, chẳng hạn như: Cách quét QR Code thông tin sức khỏe kê khai trên ứng dụng NCOVI; Đâu là ứng dụng chính thống để người dân khai báo thông tin sức khỏe phục vụ phòng dịch Covid-19; hay việc bảo mật thông tin người dân khai báo trên ứng dụng khai báo y tế… sẽ được các cán bộ của Cục Tin học hóa giải đáp ngay.

Với những câu hỏi liên quan đến dịch Covid-19, bộ phận chịu trách nhiệm quản lý trang egov.mic.gov.vn sẽ định kỳ tổng hợp các thắc mắc, phản ánh để đưa lên các nhóm làm việc qua mạng phục vụ phòng dịch Covid-19, khi đó các đầu mối thông tin của Bộ Y tế sẽ giải đáp và chuyển lại thông tin để Trung tâm chuyển tải đến người dân.

Trước đó, vào ngày 8/2/2020, để giúp người dân nắm bắt tình hình dịch bệnh và trang bị kiến thức phòng chống dịch bệnh thông qua các hướng dẫn, khuyến cáo từ cơ quan y tế có chuyên môn để bảo vệ bản thân và cộng đồng, Bộ Y tế đã cho ra mắt 2 kênh thông tin chính thống về dịch Covid-19 là ứng dụng “Sức khỏe Việt Nam” và trang thông tin chuyên biệt về dịch Covid-19 trên Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế có tên miền https://ncov.moh.gov.vn.

Theo thống kê của đơn vị hỗ trợ vận hành trang thông tin ncov.moh.gov.vn, sau gần 2 tháng hoạt động, tổng số user (người dùng) của website này đã là trên 6,5 triệu và tổng số pageviews (lượt truy cập) đã lên tới 21 triệu lượt.

Đáng chú ý, tại mục hỗ trợ người dân trên trang ncov.moh.gov.vn, với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp công nghệ, Bộ Y tế cũng đã cung cấp tiện ích “Hỏi đáp, phản ánh”. Đây là nơi người dân có thể hỏi và phản ánh các vấn đề liên quan tới dịch, Bộ Y tế sẽ trả lời và các câu trả lời được lưu lại thành một kho tri thức để dễ dàng tìm kiếm.

Theo chia sẻ của chuyên gia Nguyễn Thế Trung, Chủ tịch Công ty DTT, thành viên Tổ công tác giúp việc của Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử, thời gian qua, các doanh nghiệp CNTT Việt Nam dưới ngọn cờ của Bộ TT&TT đã hợp lực để triển khai các giải pháp CNTT hỗ trợ chống dịch Covid-19. Đã có hàng chục giải pháp được phát triển và triển khai tính theo thời gian ngày, việc mà bình thường phải tính theo thời gian là tháng, năm.

Đến nay, bên cạnh các ứng dụng hỗ trợ thông tin, với sự chung tay của các doanh nghiệp công nghệ Việt, một số ứng dụng CNTT phục vụ phòng, chống dịch Covid-19 dành cho người dân và cộng đồng khác đã được Bộ Y tế và Bộ TT&TT giới thiệu chính thức như: bản đồ dịch trên Trang Thông tin chính thức về các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 https://ncovi.vn; ứng dụng khai báo y tế NCOVI dành cho người dân Việt Nam; và ứng dụng Vietnam Health Declaration (cùng trang tokhaiyte.vn) dành cho người nước ngoài và người Việt Nam khai báo khi nhập cảnh vào Việt Nam.

Vân Anh

Kiểm tra việc xây dựng chính phủ điện tử tại 26 bộ, ngành, địa phương

Kiểm tra việc xây dựng chính phủ điện tử tại 26 bộ, ngành, địa phương

Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử sẽ lập 11 đoàn công tác để triển khai kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ Chính phủ đã giao trong Nghị quyết 17 về phát triển Chính phủ điện tử tại 8 bộ, ngành và 18 tỉnh, thành phố.

Trung tâm 1 cửa hỗ trợ triển khai Chính phủ điện tử tham gia giải đáp thắc mắc về Covid-19Công nghệ

Đổ xô tải ứng dụng theo dõi người cách ly vì Covid-19

Hà Nội SmartCity – Ứng dụng bản đồ theo dõi người cách ly và điều trị vì Covid-19 tại Hà Nội đã có hàng triệu lượt sử dụng chỉ sau ít ngày ra mắt. 

Hà Nội Smartcity là một trong các giải pháp công nghệ được Hà Nội đưa vào triển khai nhằm đối phó với dịch bệnh Covid-19. Ứng dụng này được phát triển với mục đích giúp người dân có thể giám sát các trường hợp đang cách ly và điều trị bệnh vì Covid-19.

Theo đó, nó có khả năng giám sát người nhiễm và người được yêu cầu cách ly tập trung, cách ly tại nơi cư trú và cả người đã khỏi bệnh cần tiếp tục theo dõi y tế. Việc giám sát được thực hiện bằng hệ thống GPS trên điện thoại. 

Đổ xô tải ứng dụng theo dõi người cách ly vì Covid-19
Ứng dụng theo dõi người cách ly giúp cung cấp vị trí chính xác của người đang bị cách ly, điều trị và người người đã chữa khỏi Covid-19 nhưng đang được theo dõi về y tế. Ảnh: Trọng Đạt

Hà Nội SmartCity có khả năng hiển thị vị trí của những người đang phải cách ly hoặc chịu giám sát sức khỏe do nghi nhiễm Covid-19 (Từ F1 đến F3). Khi cài phần mềm, người bị giám sát chỉ được di chuyển trong phạm vi bán kính 30 mét, nếu đi ra ngoài vùng theo dõi, sẽ có tin báo được gửi về hệ thống.

Mỗi khi những người này dịch chuyển, hệ thống sẽ tự động cập nhật vị trí và gửi tin nhắn thông báo cho lực lượng chức năng. Người dân cũng có thể thực hiện việc giám sát và báo cáo chính quyền nếu phát hiện các trường hợp có biểu hiện nhiễm bệnh. 

Đối với người nghi nhiễm bệnh, họ cũng sẽ nhận được kết quả xét nghiệm của bản thân ngay trên chính ứng dụng Hà Nội SmartCity.

Hiện ứng dụng này đã có tổng cộng hơn 260.000 lượt tải trên cả 2 nền tảng Android và iOS. Đáng chú ý khi Hà Nội SmartCity hiện đang nằm trong top 3 ứng dụng miễn phí phổ biến nhất trên Android và top 4 trên nền tảng hệ điều hành iOS. 

Đổ xô tải ứng dụng theo dõi người cách ly vì Covid-19
Hiện đã có 260.000 lượt tải ứng dụng Hà Nội SmartCity và khoảng 10 triệu lượt truy cập bản đồ trên ứng dụng. Ảnh: Trọng Đạt

Theo Trung tâm Tin học – Công báo (Văn phòng UBND thành phố Hà Nội), hơn 200.000 người đã đăng ký và được cấp tài khoản trên ứng dụng Hà Nội SmartCity. Sau hơn một tuần triển khai, đã có trên 10 triệu lượt người xem thông tin trên bản đồ dịch của ứng dụng. 

Hiện tất cả các cán bộ từ câp quận, huyện, xã, phường trên địa bàn thủ đô Hà Nội đều đã cài đặt ứng dụng này nhằm kịp thời, theo dõi các trường hợp cách ly, điều trị Covid-19 trên địa bàn thành phố. 

Sự triển khai nhanh chóng và hiệu quả ứng dụng bản đồ theo dõi người cách ly cho thấy những quyết tâm mạnh mẽ của lãnh đạo thủ đô trong việc khống chế dịch bệnh Covid-19. Trong quá trình đó, việc minh bạch thông tin chính là điểm mấu chốt để từ đó các cấp quản lý và người dân có thể chủ động phòng tránh dịch bệnh. 

Dưới đây là cách tải ứng dụng bản đồ theo dõi người cách ly Hà Nội Smartcity:

Link tải Hà Nội SmartCity trên iOS

Link tải Hà Nội SmartCity trên Android

Người dân cũng có thể chủ động cung cấp các thông tin cá nhân và tình hình sức khoẻ của bản thân bằng cách khai báo y tế tự nguyện trên ứng dụng NCOVI. Đây cũng là kênh chính thức để cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi các khuyến cáo tới người dân về tình hình dịch bệnh. 

Ngoài ra, những người nhập cảnh vào Việt Nam sẽ phải phải thực hiện khai báo y tế bắt buộc trên ứng dụng Vietnam Health Declaration. Ai không khai báo hay khai báo không trung thực đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. 

Trọng Đạt

Phản ánh điểm kinh doanh tụ tập đông người qua Hanoi Smart City để xử lý nghiêm

Phản ánh điểm kinh doanh tụ tập đông người qua Hanoi Smart City để xử lý nghiêm

Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 TP Hà Nội thông báo, nếu người dân phát hiện cơ sở vui chơi, kinh doanh nào còn mở cửa hoặc tụ tập đông người hãy chụp ảnh và gửi thông tin vào ứng dụng Hanoi Smart City để xử lý nghiêm.

Đổ xô tải ứng dụng theo dõi người cách ly vì Covid-19Công nghệ

Google chặn cụm từ “phân biệt” dịch bệnh Trung Quốc

Bàn phím Gboard trên Android và iOS không còn cụm từ đề nghị “virus Trung Quốc” khi người dùng tìm kiếm bằng từ khóa liên quan.

Google được cho đã thực hiện điều chỉnh trên, theo đó hãng chặn từ khóa “virus Trung Quốc” từng tự động xuất hiện trên bàn phím Android trước đây.

Google mô tả đây là sự cố khẩn cấp khi ứng dụng bàn phím di động đưa ra cụm từ đề nghị không hợp với ngữ cảnh.

Google chặn cụm từ “phân biệt” dịch bệnh Trung Quốc
Google chặn cụm từ “phân biệt” dịch bệnh Trung Quốc

Sẽ không có gì đáng nói khi sự việc này được liên tưởng tới thái độ của ông Trump với Covid-19. Tổng thống Mỹ liên tục gọi Covid-19 là “virus Trung Quốc”. Thậm chí trong bài phát biểu, ông còn lấy bút gạch từ Covid-19 và viết “virus Trung Quốc” vào đó.

Phần mềm gõ phím Gboard từng đưa ra các cụm từ đề nghị gồm: bệnh Trung Quốc, virus Trung Quốc, bệnh châu Á, virus châu Á. Toàn bộ cụm từ này hiện đã không còn tự nhảy ra khi người dùng gõ từ khóa liên quan.

Về nguyên nhân vì sao Google thực hiện điều chỉnh trên, có thể Google không muốn phân biệt đối xử với Covid-19 hiện nay dù khởi nguyên của dịch cúm này là từ Vũ Hán, Trung Quốc.

Gboard hiện là một trong những ứng dụng bàn phím di động thông dụng nhất, cùng với SwiftKey của Microsoft. Bất cứ thay đổi nào nếu có sẽ ảnh hưởng tới hàng trục, thậm chí hàng trăm triệu người.

Tuy nhiên, một kỹ sư phát hiện thay đổi trên chỉ áp dụng với tùy chọn ngôn ngữ tiếng Anh Mỹ (American English). Những ngôn ngữ khác với giữ nguyên như cũ.

Thử nghiệm với SwiftKey cho thấy bàn phím này không tự đưa ra đề nghị cụm từ “virus Trung Quốc” khi gõ từ khóa liên quan.

Nguyễn Minh(theo Softpedia)

ITU tạo ra nền tảng mới giúp duy trì mạng lưới viễn thông trong đại dịch Covid-19

ITU tạo ra nền tảng mới giúp duy trì mạng lưới viễn thông trong đại dịch Covid-19

Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) đã tạo ra một cơ chế mới để hướng dẫn các cơ quan chức năng làm thế nào để cải thiện khả năng phục hồi mạng và duy trì hiệu suất trong giai đoạn khó khăn này.

Google chặn cụm từ “phân biệt” dịch bệnh Trung QuốcCông nghệ

VNPT – đơn vị có chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định tốt nhất

Giải thưởng Băng thông rộng & ISP tiêu biểu năm 2020 vừa công bố ngày 27/3/2020 đã vinh danh Tập đoàn VNPT ở hạng mục “Chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định”.

Đây là giải thưởng do Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG Việt Nam và Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam tổ chức và trao tặng. Kết quả được dựa trên cuộc khảo sát “Đánh giá mức độ hài lòng của người tiêu dùng năm 2020”.

Cuộc khảo sát được tiến hành từ ngày 1/1 – 15/3/2020 với sự tham gia của hơn 5000 người tại 12 tỉnh/thành phố lớn. Người tham gia khảo sát là những khách hàng đã, đang sử dụng dịch vụ băng thông rộng di động và cố định từ nhiều nhóm độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập.

VNPT - đơn vị có chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định tốt nhất

Tại hạng mục “Chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định” mà VNPT được vinh danh, tập đoàn này đã đạt kết quả cao ở cả 4 tiêu chí gồm: “Sự ổn định của đường truyền mạng”; “Tốc độ tải dữ liệu (download)”; “Tốc độ đăng dữ liệu (upload)” và “Các gói dịch vụ”.

Thời gian qua, Tập đoàn VNPT đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai nhiều gói cước hấp dẫn dành cho khách hàng. Trong đó phải kể đến gói Home Combo với chương trình ưu đãi: tăng gấp đôi tốc độ Internet mà giá cước không đổi.  Tham gia gói cước này, khách hàng sẽ được sử dụng Internet với tốc độ tối thiểu là 50Mbps. Đây được đánh giá là tốc độ vượt trội so với đường truyền thông thường của hộ gia đình.

VNPT - đơn vị có chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định tốt nhất

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, hình thức làm việc trực tuyến được khuyến khích, thì việc sử dụng một đường truyền Internet tốc độ cao, giá cước tiết kiệm sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các gia đình.

Trước đó, cuối tháng 2/2020 VinaPhone – Đơn vị thành viên của Tập đoàn VNPT đã được tổ chức Ookla (có trụ sở tại Hoa Kỳ) trao tặng giải thưởng Speedtest Nhà mạng có tốc độ 3G/4G nhanh nhất Việt Nam. Theo đó, tốc độ download trung bình của VinaPhone đạt 33.06 Mbps, tốc độ upload là 18.75 Mbps.

VNPT - đơn vị có chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định tốt nhất

Có thể thấy, Tập đoàn VNPT cũng như nhà mạng VinaPhone đang mang đến những dịch vụ Internet chất lượng cao cho người tiêu dùng. Đây là những nền tảng quan trọng, góp phần xây dựng nền kinh tế số, xã hội số của Việt Nam trong tương lai không xa.

IDG là tập đoàn hàng đầu thế giới về truyền thông trong lĩnh vực công nghệ, nghiên cứu thị trường và tổ chức sự kiện CNTT. Được thành lập vào năm 1964 và có trụ sở tại Boston, Massa- chusetts, các sản phẩm và dịch vụ IDG được cung cấp tới hơn 280 triệu người tiêu dùng công nghệ tại 97 quốc gia.

Ngọc Minh

VNPT – đơn vị có chất lượng dịch vụ băng thông rộng cố định tốt nhấtCông nghệ

Bộ GD&ĐT công nhận kết quả học qua Internet, trên truyền hình của học sinh phổ thông

Kết quả kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy học qua Internet, truyền hình được dùng thay các bài kiểm tra thường xuyên theo quy định của Bộ về đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học, THCS, THPT. 

Thông tin nêu trên là một nội dung đáng chú ý trong hướng dẫn Bộ GD&ĐT mới ban hành về dạy học qua Internet, trên truyền hình đối với cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên trong thời gian học sinh nghỉ học ở trường vì Covid-19 năm học 2019 – 2020.

Đến nay, đã có 14 kênh truyền hình phát sóng các bài giảng giáo dục phổ thông, nhiều trường phổ thông đã ứng dụng các hệ thống quản lý học tập để tổ chức dạy, quản lý dạy và học trực tuyến (Ảnh minh họa)

Trong tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, với phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng việc học”, hiện đã có 14 kênh truyền hình phát sóng các bài giảng giáo dục phổ thông; nhiều trường phổ thông đẩy mạnh ứng dụng các hệ thống quản lý học tập (LMS) để tổ chức dạy và quản lý dạy và học trực tuyến; kho bài giảng e-learning của Bộ GD&ĐT với 5.000 bài giảng giáo dục phổ thông đã và đang được các giáo viên, học sinh trên cả nước khai thác, sử dụng miễn phí.

Để việc dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập qua Internet, trên truyền hình của các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên bảo đảm chất lượng, Bộ GD&ĐT vừa chính thức có hướng dẫn.

Theo Bộ GD&ĐT, hướng dẫn này nhằm giúp học sinh được học theo chương trình phổ thông trong thời gian nghỉ học ở trường để phòng, chống Covid-19; phát triển năng lực tự học của học sinh và năng cao kỹ năng tổ chức dạy học qua Internet, trên truyền hình của giáo viên.

Đồng thời, tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình trong việc tổ chức và hỗ trợ học sinh trong học tập. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học theo hướng tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cùng với việc thống nhất cách hiểu về dạy học qua Internet và dạy học trên truyền hình, Bộ GD&ĐT cũng hướng dẫn cụ thể về hạ tầng kỹ thuật, bài học và học liệu cũng như việc tổ chức hoạt động dạy học của từng hình thức dạy học.

Một nội dung được nhiều phụ huynh, học sinh và cả các giáo viên, các trường quan tâm khi tổ chức dạy học qua Internet, trên truyền hình là việc đánh giá và công nhận kết quả học của học sinh.

Về vấn đề này, Bộ GD&ĐT hướng dẫn, trong quá trình tổ chức dạy học qua Internet, trên truyền hình, giáo viên phụ trách môn học trực tiếp kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh thông qua các bài kiểm tra trên hệ thống dạy học qua Internet; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh với dạy học trên truyền hình bằng các hình thức phù hợp.

“Cơ sở giáo dục phổ thông quản lý, theo dõi, giám sát việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh qua Internet, trên truyền hình bảo đảm công bằng, khách quan, trung thực”, Bộ GD&ĐT yêu cầu.

Khi học sinh đi học trở lại, cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức cho học sinh ôn tập, bổ sung, củng cố kiến thức đã học qua Internet, trên truyền hình; thực hiện việc kiểm tra định kỳ và kiểm tra học kỳ theo quy định của Bộ GD&ĐT về đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học, THCS, THPT. Đối sánh kết quả kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ và kiểm tra thường xuyên để có giải pháp phù hợp giúp học sinh củng cố, bổ sung kiến thức.

Hôm qua, ngày 26/3, tại lễ công bố cam kết đồng hành, hỗ trợ của ngành TT&TT với ngành GD&ĐT trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đã nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo của ngành là “tạm dừng đến trường, không dừng việc học”. Theo đó, ngành Giáo dục sẽ tăng cường chuyển từ học trực tiếp sang trực tuyến, vẫn đảm bảo nội dung cơ bản. Cùng với đó, sẽ tăng cường các điều kiện để đảm bảo chất lượng, đặc biệt là ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, giám sát, đánh giá. 

M.T. 

Bộ GD&ĐT công nhận kết quả học qua Internet, trên truyền hình của học sinh phổ thôngCông nghệ

Học trực tuyến sẽ dần thay thế các lớp học offline truyền thống

Theo đại diện VNPT, Viettel, K12School, dù dịch Covid-19 là cú hích để đẩy mạnh phong trào học trực tuyến, người dùng cũng đã quen với hình thức học mới này. Trên cơ sở đó, việc học tập trực tuyến sẽ dần trở thành xu hướng tất yếu.

Đã quen với học trực tuyến nhưng còn chưa mạnh dạn thực hiện

Theo Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp Viettel (trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội), đối với Viettel Study, thời gian qua, thói quen của người dùng trong việc tìm kiếm trên mạng, sử dụng các giải pháp học tập trực tuyến đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Vì vậy, lượng truy cập vào các trang học trực tuyến như Viettel Study tăng nhanh kể từ khi học sinh bắt đầu nghỉ học do dịch Covid-19. “Lượng pageview (tải trang) tính đến thời điểm này đã tăng thêm 69 triệu”, đại diện Viettel chia sẻ thêm.

Tuy nhiên, dù thói quen của người dùng đã bắt đầu thay đổi, chuyển dịch từ trực tiếp (offline) sang trực tuyến (online) nhưng nhiều địa phương, trường học, giáo viên còn ngần ngại nên mới chỉ định hướng học sinh ôn luyện bổ sung kiến thức cũ, chưa mạnh dạn đưa ra thời khoá biểu cụ thể để thực hiện dạy các kiến thức mới.

Học trực tuyến sẽ dần thay thế các lớp học offline truyền thống
Học trực tuyến sẽ dần thay thế các lớp học offline truyền thống

Cùng quan điểm, đại diện VNPT cho rằng, trong quá trình triển khai VNPT E-learning, đơn vị này thấy rằng người dùng hiện nay cũng đã rất quen thuộc với việc học trực tuyến, khi mà có thể nói 100% các trường học có đủ điều kiện về hạ tầng (kết nối Internet, thiết bị đầu cuối,…) đều đã triển khai học trực tuyến. “Các trường tổ chức các lớp học online với thời khoá biểu cụ thể, các thầy cô đã quen với việc lên lớp và giảng bài trực tuyến giống như tổ chức lớp học truyền thống trước đây”, đại diện VNPT nói.

Mặc dù vậy, do hiện nay chưa có quy định nào công nhận kết quả học online nên vẫn chỉ được nhìn nhận là công cụ bổ trợ, nên một số trường không bắt buộc phải triển khai hình thức này.

Ông Phạm Quốc Hùng, Chủ tịch HĐQT K12school Edtech Group, đơn vị phát triển ứng dụng học trực tuyến LIKA cho biết, thời điểm này là cơ hội tốt để phụ huynh và học sinh trải nghiệm các chương trình học online khác nhau, qua đó có điều kiện để đánh giá và lựa chọn chương trình phù hợp và hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, nhiều trường, nhất là các trường tư thục cũng tự triển khai các tiết học, giao bài qua mạng. “Việc “nở rộ” phong trào học online dịp này này là cần thiết, kịp thời, đúng xu thế, tuy nhiên cũng không tránh khỏi bất cập. Trong đó, quan ngại nhất là việc người dùng dễ bị “đánh đồng” giữa “công cụ” học online và một giải pháp e-learning đúng nghĩa”, ông Hùng khẳng định.

Vẫn còn nhiều khó khăn nhưng sẽ là xu hướng tất yếu thay thế lớp học truyền thống

Về những khó khăn trong quá trình triển khai học trực tuyến, ông Hùng nhấn mạnh, trong thời đại 4.0, e-learning là một xu thế tất yếu. Mặc dù vậy, các start-up trong lĩnh vực giáo dục công nghệ (edtech) vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc “educate”(hướng dẫn, đào tạo) người dùng. Dịch bệnh, dù đương nhiên là thảm họa không ai mong muốn, nhưng đối với các edtech, đây chính là dịp tiếp cận rất tốt tới người dùng. Những sản phẩm chất lượng, đem lại hiệu quả và tiến bộ từng ngày cho học sinh sẽ được khẳng định và tìm được chỗ đứng.

Lợi thế của LIKA là nhờ chương trình học hay, hệ thống thân thiện dựa trên các thuật toán tối ưu và hỗ trợ nhiều tính năng tương tác giữa giáo viên – học sinh, phụ huynh – học sinh và giữa các học sinh trong nhóm, lớp với nhau nên chương trình có tính lan tỏa mạnh. Không chỉ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, trong thời gian này LIKA đã được nhiều cộng đồng người Việt trên thế giới sử dụng để cho con học tập.

Đại diện VNPT cho biết, khó khăn còn đến từ việc các nhà trường hiện chưa có kho học liệu dùng chung để khai thác nên phải mất nhiều công sức để xây dựng riêng cho trường mình. Do đó, VNPT phải hỗ trợ triển khai nhiều hơn, sâu hơn tới các trường.

Mặc dù vậy, việc học tập trực tuyến vẫn sẽ là xu hướng tất yếu, nằm trong lộ trình chuyển đổi số nền giáo dục và sẽ thay thế một phần, thậm chí hoàn toàn cho lớp học truyền thống. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, VNPT dự báo đến hết năm 2020, các ứng dụng học trực tuyến phủ tới 100% các trường học, cơ sở giáo dục,…

Trên cơ sở đó, VNPT đã có các giải pháp tổng thể về trường học thông minh cũng như giáo dục thông minh phục vụ cho chuyển đổi số nền giáo dục, trong đó sản phẩm E-learning chỉ là một trong những sản phẩm của hệ sinh thái này. E-learning của VNPT sẽ được tích hợp nhiều sản phẩm dịch vụ để tạo thành hệ sinh thái giáo dục số, đáp ứng mọi nhu cầu và nghiệp vụ trực tiếp và gián tiếp trong lĩnh vực giáo dục bao gồm việc quản lý dinh dưỡng, quản lý thu phí, kiểm định chất lượng giáo dục cùng những tính năng khác như trợ lý học tập ảo có khả năng nhận diện khuôn mặt, giọng nói, hành vi, cảm xúc, bạo lực học đường…. “VNPT cũng sẽ ứng dụng các công nghệ mới như thực tế ảo, thực tại tăng cường, trí tuệ nhân tạo, sinh trắc học cho sản phẩm”, đại diện VNPT nói.

Còn theo đại diện Viettel, trong quá trình triển khai, đơn vị này đã gặp môt số khó khăn như việc cơ sở vật chất tại nhiều địa phương còn chưa tốt, khả năng công nghệ thông tin của giáo viên còn nhiều hạn chế, cần thường xuyên tập huấn và thêm thời gian để làm quen với hệ thống. Vì thế, ViettelStudy đã hỗ trợ đến từng trường học để hướng dẫn và trả lời thắc mắc của giáo viên trong quá trình sử dụng, đồng thời có tổng đài để người dùng cần sẽ hỗ trợ hướng dẫn trực tiếp.

Ngoài ra, do các hệ thống khác trên thị trường đang triển khai theo hướng các tính năng nhỏ lẻ như có hệ thống chuyên cung cấp nội dung, có hệ thống chỉ cung cấp phần lớp học tương tác trực tuyến, có hệ thống chỉ cung cấp tính năng thi kiểm tra. Tuy nhiên, với ViettelStudy, các trường chỉ cần sử dụng một giải pháp duy nhất để đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu, nhất là khi ứng dụng được thiết kế dưới dạng Mạng xã hội nên rất dễ sử dụng.

Đánh giá về xu hướng của việc học trực tuyến trong thời gian tới, đại diện của Viettel cho biết, dịch Covid-19 sẽ là cú hích để đẩy mạnh việc học trực tuyến, nhất là khi Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ban hành thông tư hướng dẫn chính thức về việc dạy và học trực tuyến. “Đây sẽ là dịp để người dùng thấy được các tiện ích của các hệ thống học trực tiếp để tiếp tục áp dụng trong việc bồi dưỡng kiến thức sau khi trở lại trường học bình thường”, đại diện Viettel chia sẻ thêm.

Sắp tới, Viettel sẽ tiếp tục phát triển sản phẩm theo hướng tối ưu trải nghiệm người dùng, đưa ViettelStudy trở thành 1 hệ thống all-in-one (tất cả trong một) đáp ứng các yêu cầu của trường học online cho mọi thành phần tham gia từ cơ quan quản lý, giao viên, phụ huynh cho đến các học sinh.

PV

Học trực tuyến sẽ dần thay thế các lớp học offline truyền thốngCông nghệ